Luật Tín ngưỡng, tôn giáo 2026: Bảo đảm tốt hơn quyền tự do tín ngưỡng trong môi trường số
Ngày 23/4/2026, tại Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Tín ngưỡng, tôn giáo số 07/2026/QH16. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2027, tạo cơ sở pháp lý đồng bộ hơn để bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, đồng thời nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trong tình hình mới.
1. Sự cần thiết ban hành Luật
Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là quyền cơ bản của con người được Hiến pháp ghi nhận và pháp luật bảo hộ. Những năm qua, việc thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã tạo hành lang pháp lý quan trọng để các tổ chức, cá nhân thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; góp phần phát huy các giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp và nguồn lực của các tôn giáo trong xây dựng, phát triển đất nước.
Tuy nhiên, thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, quá trình chuyển đổi số, sự gia tăng các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng, hoạt động có yếu tố nước ngoài và yêu cầu tiếp tục phân cấp, cải cách thủ tục hành chính đã đặt ra nhiều vấn đề mới cần được điều chỉnh đầy đủ, thống nhất.
Việc ban hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2026 nhằm tiếp tục thể chế hóa chủ trương của Đảng và quy định của Hiến pháp về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; khắc phục những hạn chế, bất cập trong thực tiễn; làm rõ quyền, nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân và trách nhiệm của cơ quan nhà nước; đồng thời tăng cường công khai, minh bạch, ứng dụng công nghệ và bảo đảm an ninh, trật tự trong hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo.
2. Những điểm mới nổi bật, cốt lõi của Luật
- Quy định rõ hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng
Luật lần đầu xác định cụ thể khái niệm “hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng”; quy định trách nhiệm của cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân và doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trên không gian mạng. Tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trực tuyến phải tuân thủ pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo và các quy định pháp luật có liên quan.
Quy định này tạo cơ sở pháp lý để bảo đảm quyền sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo trong môi trường số, đồng thời kịp thời phát hiện, ngăn chặn, xử lý nội dung vi phạm, thông tin xuyên tạc hoặc hành vi lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo trên mạng.
- Bổ sung hành vi bị nghiêm cấm liên quan đến công nghệ và trí tuệ nhân tạo
Bên cạnh các hành vi như phân biệt đối xử, ép buộc, mua chuộc, cản trở người khác theo hoặc không theo tín ngưỡng, tôn giáo; xúc phạm tín ngưỡng, tôn giáo; lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để trục lợi, Luật nghiêm cấm sử dụng không gian mạng, trí tuệ nhân tạo hoặc công nghệ để vi phạm pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo.
Đây là cơ sở quan trọng để phòng ngừa việc sử dụng công nghệ nhằm giả mạo thông tin, kích động chia rẽ, xuyên tạc giáo lý, giáo luật hoặc thực hiện các hành vi xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.
- Khẳng định đầy đủ hơn quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người
Luật tiếp tục bảo đảm mọi người có quyền theo hoặc không theo một tôn giáo, bày tỏ niềm tin, thực hành lễ nghi, tham gia lễ hội, học tập và thực hành giáo lý, giáo luật. Người bị tạm giữ, tạm giam, người đang chấp hành hình phạt tù, người tại cơ sở giáo dục bắt buộc hoặc cơ sở cai nghiện ma túy được sử dụng kinh sách và bày tỏ niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo theo quy định.
Quy định này thể hiện nhất quán chính sách tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, không phân biệt hoàn cảnh hoặc địa vị pháp lý của cá nhân.
- Làm rõ quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo và tổ chức được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo
Luật quy định cụ thể quyền tổ chức sinh hoạt tôn giáo, xuất bản kinh sách, sản xuất, xuất khẩu, nhập khẩu văn hóa phẩm và đồ dùng tôn giáo; cải tạo, nâng cấp, xây dựng cơ sở tôn giáo; tiếp nhận tài sản hợp pháp; thực hiện hoạt động từ thiện, nhân đạo và các quyền khác theo quy định.
Việc phân định rõ quyền của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc và tổ chức được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo giúp các chủ thể dễ xác định phạm vi hoạt động, đồng thời tạo thuận lợi cho cơ quan nhà nước trong hướng dẫn, tiếp nhận và giải quyết thủ tục.
- Hoàn thiện quy định về hoạt động tín ngưỡng và lễ hội tín ngưỡng
Luật quy định cụ thể điều kiện đối với người đại diện, thành viên ban quản lý cơ sở tín ngưỡng; thẩm quyền công nhận; việc thông báo hoạt động tín ngưỡng thường xuyên; đăng ký hoạt động tín ngưỡng ngoài cơ sở tín ngưỡng; tổ chức lễ hội lần đầu, lễ hội được khôi phục hoặc lễ hội định kỳ có thay đổi.
Đáng chú ý, khoản thu từ tổ chức lễ hội tín ngưỡng phải được quản lý, sử dụng đúng mục đích, công khai, minh bạch và thông báo với cơ quan có thẩm quyền. Quy định này góp phần tăng cường trách nhiệm giải trình, hạn chế thất thoát, lãng phí và bảo đảm quyền giám sát của cộng đồng.
- Quy định chặt chẽ, minh bạch hơn về đăng ký hoạt động và công nhận tổ chức tôn giáo
Tổ chức được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo phải hoạt động ổn định, liên tục đủ 05 năm và đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo Luật trước khi được công nhận là tổ chức tôn giáo.
Luật đồng thời quy định rõ điều kiện, thẩm quyền công nhận; yêu cầu về hiến chương, cơ cấu tổ chức, tài sản độc lập, tư cách tham gia quan hệ pháp luật và trách nhiệm của người đại diện, người lãnh đạo. Qua đó, bảo đảm tính minh bạch, ổn định và trách nhiệm pháp lý của tổ chức tôn giáo.
- Hoàn thiện quy định về tư cách pháp nhân và tổ chức tôn giáo trực thuộc
Tổ chức tôn giáo có tư cách pháp nhân phi thương mại kể từ ngày được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận. Tổ chức tôn giáo có thể đề nghị Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cấp đăng ký pháp nhân phi thương mại cho tổ chức tôn giáo trực thuộc khi đáp ứng các điều kiện theo Luật.
Quy định này tạo thuận lợi cho tổ chức tôn giáo thực hiện các giao dịch dân sự, quản lý tài sản và tổ chức hoạt động theo đúng quy định của pháp luật.
- Phân định rõ thẩm quyền giữa cấp xã, cấp tỉnh và cơ quan trung ương
Luật quy định cụ thể thẩm quyền tiếp nhận thông báo, đăng ký hoặc chấp thuận của Ủy ban nhân dân cấp xã, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và Bộ Dân tộc và Tôn giáo, căn cứ vào phạm vi, địa bàn và tính chất của hoạt động.
Việc phân cấp rõ ràng giúp rút ngắn đầu mối, nâng cao trách nhiệm của chính quyền địa phương, tạo thuận lợi cho tổ chức, cá nhân trong thực hiện thủ tục hành chính và hạn chế tình trạng chuyển hồ sơ không đúng thẩm quyền.
- Hoàn thiện quy định về hoạt động có yếu tố nước ngoài
Luật quy định rõ việc sinh hoạt tôn giáo tập trung của người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam; mời chức sắc, nhà tu hành nước ngoài; người nước ngoài học tại cơ sở đào tạo tôn giáo; tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động tôn giáo, đào tạo tôn giáo ở nước ngoài; phong phẩm, bổ nhiệm, bầu cử, suy cử có yếu tố nước ngoài.
Các quy định này vừa tạo điều kiện cho giao lưu, hợp tác quốc tế về tôn giáo, vừa bảo đảm tuân thủ pháp luật Việt Nam, giữ vững độc lập, chủ quyền, an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội.
- Khuyến khích phát huy nguồn lực của tín ngưỡng, tôn giáo
Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện để nguồn lực của tín ngưỡng, tôn giáo tham gia phát triển đất nước, bảo đảm an sinh xã hội, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc được tham gia hoạt động giáo dục, y tế, bảo trợ xã hội, từ thiện, nhân đạo theo quy định của pháp luật.
Đây là cơ sở để tiếp tục phát huy những đóng góp tích cực của các tổ chức, cá nhân tôn giáo đối với cộng đồng và xã hội.
- Tăng cường ứng dụng công nghệ trong quản lý nhà nước
Nội dung quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo được bổ sung nhiệm vụ ứng dụng, thúc đẩy phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; xây dựng, quản lý, khai thác cơ sở dữ liệu về tín ngưỡng, tôn giáo.
Quy định này góp phần hiện đại hóa phương thức quản lý, nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ công, giảm thời gian xử lý hồ sơ và tăng khả năng chia sẻ, khai thác thông tin giữa các cơ quan.
- Quy định rõ hoạt động kiểm tra chuyên ngành
Luật xác định nội dung, nhiệm vụ và thẩm quyền kiểm tra chuyên ngành về tín ngưỡng, tôn giáo. Bộ trưởng Bộ Dân tộc và Tôn giáo thực hiện thẩm quyền kiểm tra trên phạm vi cả nước; Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp thực hiện kiểm tra trong phạm vi quản lý.
Quy định này giúp tăng cường kỷ luật, kỷ cương, phòng ngừa vi phạm nhưng đồng thời yêu cầu hoạt động kiểm tra phải đúng thẩm quyền, đúng đối tượng và tuân thủ pháp luật.
3. Trách nhiệm triển khai và định hướng thi hành tại địa phương
Để Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2026 được triển khai thống nhất, đồng bộ và hiệu quả, các cơ quan, đơn vị và địa phương cần tập trung thực hiện một số nhiệm vụ trọng tâm:
Một là, tổ chức tuyên truyền, phổ biến sâu rộng nội dung của Luật đến cán bộ, công chức, chức sắc, chức việc, nhà tu hành, người đại diện tổ chức tôn giáo, ban quản lý cơ sở tín ngưỡng, tín đồ và Nhân dân; lựa chọn hình thức truyền thông phù hợp với từng địa bàn, đối tượng.
Hai là, rà soát văn bản, quy trình và thủ tục hành chính thuộc lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo; kịp thời đề xuất sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc bãi bỏ những nội dung không còn phù hợp với Luật mới.
Ba là, chuẩn hóa việc phân cấp và phối hợp giải quyết công việc giữa cơ quan chuyên môn cấp tỉnh, Ủy ban nhân dân cấp xã và các cơ quan liên quan, bảo đảm hồ sơ được tiếp nhận, xử lý đúng thẩm quyền, đúng thời hạn.
Bốn là, tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác tín ngưỡng, tôn giáo, nhất là cán bộ cấp xã; chú trọng kỹ năng hướng dẫn thủ tục, kiểm tra chuyên ngành và xử lý hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng.
Năm là, đẩy mạnh chuyển đổi số, xây dựng và cập nhật cơ sở dữ liệu về tổ chức, cơ sở, chức sắc, chức việc và hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo; từng bước tăng cường tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính trên môi trường điện tử.
Sáu là, phối hợp chặt chẽ với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội, thường xuyên nắm bắt tâm tư, nguyện vọng chính đáng của chức sắc, chức việc, nhà tu hành, tín đồ; kịp thời hướng dẫn, tháo gỡ khó khăn phát sinh ngay từ cơ sở.
Bảy là, Tăng cường quản lý đi đôi với tạo điều kiện thuận lợi, bảo đảm mọi hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo hợp pháp được tôn trọng, bảo hộ; đồng thời chủ động phòng ngừa, phát hiện và xử lý nghiêm hành vi lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để trục lợi, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc hoặc vi phạm pháp luật.
Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2026 có hiệu lực từ ngày 01/01/2027. Việc chuẩn bị đầy đủ các điều kiện thi hành ngay từ năm 2026 có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm quá trình chuyển tiếp không làm gián đoạn quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo tại địa phương.
Xem chi tiết tại: https://sdttg.gialai.gov.vn/lawdocdetail.php?docid=523